DU-LICH

Hiển thị các bài đăng có nhãn A- Ông Nội tôi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn A- Ông Nội tôi. Hiển thị tất cả bài đăng

21/11/13

NHẪN

21/11/11

Ông Nội tôi


Những ngày xưa thân-ái ,khi tôi mới lên bốn lên năm thì ông bà tôi đã ngoài 80 ;nhũng gì tôi nhớ và kể lại dươí đay là những ngày tôi sống bên ông bà trong những năm tháng cuối đời .Tôi viết để lại cho con cháu mai hâụ biết rỏ thân-thế và sự-nghiệp của vị tiền-bối có công vun-đắp đạo-đức và ánh sáng tri-thức làm nền tảng cho chúng ta hiện tại và con cháu mai sau 


























.Ông tôi qua đơì vào nửa đêm tháng ba trong tiết Thanh-minh 1949 ; tại ngôi nhà từ-đường . Khi sanh tiền nôị lo cưới vợ và mua nhà cho đứa con trai út là ba tôi,năm ba tôi lên 20,ba má tôi di-chuyển ra Thanh-minh, để căn nhà ở Lạc-lợi này làm từ-đường Bác tôi ở,sau đó không bao lâu ông bà cũng theo ra ở chung với ba má tôi để công việc coi mạch bóc thuốc- nghề đông-y của ông được thuận tiên hơn vả lại Thanh-minh có chợ và tiệm phố bà tôi cũng mở cửa tiệm buôn bán hàng xén như kim,chỉ ,vảỉ vóc thức ăn khô để bà có việc làm cho đở buồn .Ba tôi kể cho tôi nghe: ngày xưa ông cố của con là ông Trần-Đăng-Bình có bàvợ bé,bỏ bê bà lớn;bà cố tôi buồn lòng đi ở riêng với người con trai út là ông Nội tôi,tại khu đát nhà từ-đường hiện tại.Nội tôi lúc nhỏ hiếu học không thích ruộng nương như các ông anh cuả ông.Bà Cố cho nội ăn học chũ Nho và nghề Đông y cho đến thành tài.Triều vua Khại-Định ông được bổ nhậm là Y-Sanh tại tỉnh Khánh-hòa
.


Ngôi nhà của ba tôi ở cách chợ Thanh-minh độ trăm thước,có lẽ là môt trong vài ngôi nhà đẹp và bề thế nhất trong làng.Những ngày lên bốn lên năm tôi chạy đi chạy về khi Phú-khánh quê ngoại ,khi Thanh-minh quê nội .để vui chơi với ông bà.Tôi còn nhớ bên trong căn nhà,mổi bên có một căn tủ gương cao đến trần nhà,giửa là trang thờ phật trên cao.Tủ bên trái bà nội để hàng  để bán,tủ bên phải ông nội dùng làm tủ đựng thuốc bắc.
Ông tôi chửa bệnh cho dân khắp các xã trong quận Diên-khánh:từ Đại-điền ,Hà-dừa,cho đến Đồng-cọ Suối tre,Quan-thịnh Đồng-trăng Đất sét đâu đâu cũng đến nội tôi- mỗi khi nhà có người bệnh .Nội tôi người hiền từ nhân-đức chửa bệnh mát tay chửa đâu lành đó tiếng đồn khắp nơi , bất cứ đâu trong quận hể nói đến ông Giáo Tám là họ ngưỡng-mộ (một số đệ tử trong Quận theo học nghề).,gặp người nghèo khó ông cứu giúp không lấy tiền,gặp năm thiên-tai hạn hán hay lụt lội- ruộng mất mùa ông lấy luá phân phát cho dân ,ngày khai trường ông giúp đở và khuyến-khich trẻ con trong các xã đi học...Nhiều gia-đình nghèo qúa con nuôi không nổi đem đến ở học nghề và giúp viêc  cho ông bà tôi,ông bà đối xũ như con cháu,có nhiều ngươi ở mãi cho đến khi ông bà qua đời cũng còn ở tiếp-tục cho các cô,bác tôi như :chị Tư dẹo ,anh năm Nồi ở Phú-vinh,anh Bốn Bon ở Gò-cà,anh Thống con bác Bảy Rừng ở Quan-thịnh.Tôi còn nhớ rất rõ cứ vài tuần anh Thống kéo chiếc xe kéo  của nội tôi mua - xuống Thành mua thuốc bắc để dành bốc thuốc cho bệnh nhân ,đôi khi kéo xuống Phú-khánh thăm xui gia là bà ngoại tôi,lúc đó tôi sung sướng nhất là được về thăm ngoại và các dì cậu,những giây phút được ngồi trên xe với nội- anh Thống kéo chạy phon-phon nhìn hàng cây muồng hai bên đường tôi có cảm-tưởng như chúng chạy ngược về phía sau.
Trước nhà,  nội tôi bảo ba tôi viết ba chữ  :Nhẩn-Nhẩn-Nhẩn và Nhiêu- Nhiêu – Nhiêu bằng chũ Hán tôi thấy lạ nhưng chẳng biết nghỉa là gì… nội tôi có nhiều con gái,nên lúc các cô tôi đến tuổi cặp kê,nhiều người  đến coi mắt ;ba tôi kể có một ông  người ở đâu phía dưới Thành Đại-điền hay Phú-Vinh gì đó,một hôm gần Tết cùng cha mẹ đem trà rượu đến coi mắt cô tôi,trong khi cha-mẹ đang hàng huyên với ông tôi ,ông con không biết làm gì bèn ra hàng hiên đứng nhìn trời đất…chợt ông ta thấy mấy chữ Nhẩn ,Nhiêu viết trên vách hai bên của trước nhà ,tức cảnh sinh tình ông ta làm bài thơ tứ tuyệt cung kính trình cho nội tôi xem
                                       Ngày xuân trăm cảnh cảnh đua chen
                                       Đào cúc nồng hương đượm ngát trời
                                       Trăm tuổi trăm xuân trăm thiện phúc
                                       Nhẩn – Nhiêu gương sáng để trên đời
Ba tôi nói :Nội xem qua khen hay nhung hai câu đầu không đúng với ý của nội, Nội khe khẽ ngâm bốn câu sửa lại    
                                       Hơi còn ba tấc lo ngàn việc
                                       Một phút vô-thường mấy cũng thôi
                                      Trăm tuổi trăm xuân trăm thiên phúc
                                       Nhẩn, nhiêu gương sáng để trên đời
Hai chữ “ Nhẫn và Nhiêu” sau này khi khôn lớn tôi mới biết được ông lấy từ trong triết-lý của Khổng Tử :
                                      Nhẩn nhẩn nhẩn oan gia tùng thử  tận
                                      Nhiêu nhiêu nhiêu vạn họa nhất tề tiêu

Lúc trước năm 1948 ở các xã lân cận không có trường tiểu-học vì chiến-tranh . Ba tôi làm lễ khai-tâm cho tôi bắt đầu bằng những câu ca-dao : Trong đầm gì đẹp bằng sen…Hay mấy câu vè chữ Nôm: Thiên trời, địa đất vân mây để học và tập viết… Ba tôi dạy lâu ngày chắc không còn câu gì khác bèn đem mấy vần thơ của ông tôi ra bắt tôi hoc và viết đi viết lại… có vây tôi mới nhớ đến ngày nay để viết lại cho con cháu sau này đọc và suy ngẩm cái tiết-lý mà Nội muốn gởi lại cho con cháu…
    Hinh bóng của ông vào ra trong nhà khi đọc sách khi bóc thuốc cho bệnh nhân miệng luôn phì phà điếu thuốc lá gắn chặc vào môi dưới của ông còn mải trong tâm trí tôi  ,có khi ông cháu hủ hỉ chuyện trò ,ông chỉ cho tôi cách quấn thuốc để ông hút ,điếu thuốc chỉ vừa bằng ngón tay trỏ của tôi thôi , ….Nội ngồi hằng giờ mắt nhìn vào trang sách,Miệng phì-phà điếu thuốc trên môi ,thỉnh thoảng nhả ra một đám khói mù mịt che cả khuôn mặt hiền hậu và đôi môi lúc nào cũng tươi cuời cuả ông.Nhớ lại hồi đó cô Tám cuả tôi ở Trường lạc thỉnh thoảng về thăm thường nhắc chuyện xưa của ông cô nói :” Nội mày hồi trước khi còn ở Lac-lợi vì phải qua cầu làm băng tre xe cộ không qua lại được,mọi người trong làng đều phải đi bộ,một hôm nội đi xuống Thành để mua thêm thuốc , ông gặp bạn bè hàng huyên trà rượu về trể… Nhà đã lên đèn mà chưa thây nội về,cả nhà đi ngủ nội về lúc nào không hay,đến sáng khi ông thức dậy mọi người trong nhà thấy môi dưới của nội bị phồng và  hàm rau cầm bị cháy xém,té ra vì trời lạnh và say ngà ngà trên đường đi bộ từ cây Giáng Hương về điếu thuốc cháy sắp hết trên môi nội không hay “……Ngồi buồn thỉnh thoảng nội ngâm những bài thơ nội làm hay đọc những câu vè nói về tánh-dược các vị thuốc nội sáng-tác để dạy cho học trò cuả ông .
Khi tôi lên tám chín tuổi ,ông tôi bắc đầu yếu không còn đủ minh mẫn để viết toa thuốc và bắt mạch , nên nội tôi  không làm thuốc nữa - nằm nghỉ-ngơi trên giường ở Thanh-minh,bà nội cũng không còn buôn bán  ,trước căng tủ để hàng hóa của bà - bây giờ kê thêm chiếc giường lớn  có nệm để nội nằm ,tôi nhớ nội có cặp gà Ri trắng tóat ,lúc đói chúng cứ lúc-thúc bên giường nội để được nội vải cho vài nắm gạo và uống nước trong lon để dưới chân giường ,nội bảo đó là nước rể của cũ sâm (đản sâm) gà uống vào sẽ đẻ trứng rất bổ dưởng cho người già
    Ngày tháng trôi qua trong tuổi thơ ấu ,vaò cái tết 1946 Nội về Lạc-lợi để cúng Giao thừa ,chỉ còn bà nội ở lại với ba má tôi ,thật may cho ông- Chiều ngày 28 hay 29 gần  tết bà ngoại tôi ở Phú-khánh lên thăm má tôi; thình-lình lính Tây lê-dương từ đâu dưới Nhatrang kéo lên chúng đi từ Trường-lạc đến mãi trên Đông-dài để càng quét Việt-minh ,bà ngoại tôi bị kẹt lại .Mọi người trong làng gồng gánh bỏ nhà chạy trốn Tây,ba tôi cùng anh Thống khiên chiếc ghe câu ra bến bà Án đưa cả gia-đình sang núi Hòn Ngang để lánh nạn .Khổ nổi trước nhà khi chạy đi còn treo tấm bản và cờ đỏ sao vàng của mấy ông Việtminh mượn nhà để họp chi-bộ tất niên .Bon Tây thấy vậy xông vào nhà đốt phá -hai kho lúa của căn nhà ngang phía sau bị cháy rụi ,ngôi nhà trên chúng lấy hết đồ xưa quần áo,chúng thấy tượng Phật Di-lạc cao đến nửa thước rất đẹp thờ trên trang  ,thằng tây đen vừa to vừa cao leo lên chiếc thang gổ khệ nệ rinh tượng Phật xuống ,bất thần chiếc thang gảy- nó rớt từ trên cao cả 5-6 thước ,tượng Phật vỡ đôi .Bọn Tây tức quá gom hết áo quần bàn ghế chất  giữa nhà rồi đổ xăng đốt , tượng Phật chúng bỏ lại nằm lăng-lóc giửa nhà…
    May cho căn nhà  cửa kiếng đang đóng bịt bùng bọn Tây không để ý,ngọn lửa  bóc cao không tới trần nhà trong khi khóí toả mịt-mù không lối thoát .Lửa ngợp tắt …Phước cho nhà tôi khỏỉ cảnh màng trời chiếu đất…Qua tết cả nhà trở về lo thu dọn nhà cửa ,rủi cho ba tôi sơ ý khiên bộ ván ngựa bị cháy vì quá nặng nên  sập đè mấy đầu ngón tay ông bị dập nát …
Mấy tháng sau Tây lại lên bố ráp lần này mục-đích là chúng bắt thanh-niên đi làm xâu, để phát rừng làm đường ở núi đèo Rù-Rì. Ba tôi không biết chạy đi đâu cho kịp ông qúynh-quán  lũi đại vào đám ruộng mía bên kia hàng tre sau vườn…ba tôi cứ tưởng là chắc ăn -nào ngờ thằng tây nó đã học chiến thuật càng quét , bọn chúng nắm tay hàng ngang cứ thế mà tiến vào kiểu như ta lấy lược chải chí trên đầu .Thế là bao nhiêu trai tráng núp trang ruộng mía đều bị lôi ra trong đó có ba tôi .Thằng Tây đen thấy mấy đầu ngón tay mặt của ba tôi bị dập nát còn băng bó nó nói ba tôi là Viêt minh ném lưụ đạn ., . Ba tôi bị cột tay dẩn đến chiếc xe riêng trong đó đã có vài người ,chúng đóng cửa bịt bùng chở đi trước…..

Xe vào đến Quận thì ngừng lại - xe mở cửa ba tôi nhìn ra thấy lố nhố toàn là tây tà ,thằng tây đen đến xe dẩn từng người đến cây Cốc trước quận bên kia đường –nghe tiếng sung nổ ,người đó ngã gục xuống đất ,rồi cũng đến lượt ba tôi .Ông sợ đến té đái trong quần ,chân run bước đi không vững,miêng vái lâm râm nam mô cưú độ… , May thay ông chợt  thấy một người mà ông vừa mới đi qua vẽ mặt quen , đang đứng nói chuyện với mấy thằng Tây  ,( ông này ở Hà-dừa lúc trước dẩn mẹ lên ông nội chửa bệnh ,sau đó thỉnh-thoảng ông ta còn lên để lấy thuốc bổ cho mẹ , ông ta đôi lần có chuyện trò với ba tôi ,nhưng ba tôi không biết ông ta làm gì ).Ba tôi đứng lại thưa:Thưa Bác ,Tôi là con ông giáo Tám ở Thanh-minh , Bác có lên nhà hốt thuôc ,nhà con bị tây đốt trong khi thu dọn chẳn may bị tắm phản sập đè thương tích chưa lành .Xin bác cưú giúp. Ông ta nhìn ba tôi từ đầu đến chân như để nhớ lại hay đê thẩm định con người của ba tôi….Rồi ông ta quay lại nói với thằng Tây đen đã bắt Ba tôi : “ người này là bà con của tao”.Thằng Tây đen đổ quậu chấn cho ba tôi mấy đạp miệng hét :” Mày cút đi cho lẹ “..thế là ba tôi thoát nạn…thật hú hồn cho ba tôi .Sở dĩ tôi kể câu chuyện dài dòng này ,mục đích là để cho con cháu sau này đọc đến đay thấy được là ba tôi còn sống được là nhờ đức độ của ông nội ngay khi ông nội còn sống…..
Sau đó độ vài năm , chinh-quyền Bảo-Đại đã ổnđịnh ,Phe quốc-gia cho xây đồn bót –trong  làng đã có trường học ,tôi bắt đầu đến trường . Thanh-niên trong các làng từ Lạc-lợi Tư-dăng đến Gò-cà hằng đêm phải tập trung vào đồn Thanh-minh để ngủ - vì Tây sợ họ bỏ theo Việt-minh ,hay bị V-M bắt .
Một hôm má tôi về thăm bà ngoại , ba tôi phải trốn ở nhà với mấy anh em tôi .Bất ngờ đêm đó V-M về ,tình trạng an-ninh còn xôi-đậu ,ngày Quốc-gia tối Việt-minh ; do đó lính chỉ ở trong đồn bắn ra chứ không truy-kích ,mấy ông V.M đi quyên góp thóc lúa và lục soát .Cả nhà đang ngon giấc ba tôi vùng thức dậy không còn biết chổ nào để trốn cho an-tòan , nhìn lên trang thờ phật ,ba tôi nghĩ chỉ còn cách là leo lên và ngồi sau lưng tượng phật Di-Lac để mong được ngài che-chở.Sau khi đã an-tọa ông buông tấm màng và thò tay ra gõ 3 tiếng làm hiệu cho chị Tư Dẹo mở cửa,vì tối và run ba tôi đụng phải cây đèn thau rớt từ trên cao nghe một tiếng ; lăng trên sàn nhà .Chị Tư thì khờ qúa không luợm lên trước khi mở cửa,mấy ông V.M vào rọi đèn pin qua lại thấy ngay cây đèn nằm chình-ình dưới đất .Thế là họ mời ba tôi xuống và sửa soạn khăn gói theo lên núi với họ với chức vụ là y-tá băng bó cho thương-binh ở hậu-cứ Đồng-trăng mấy thang trời . Khi còn sanh-tiền nội  thừơng bảo ba tôi hảy tìm đến nơi chốn phùng-hoa đô-hội mà ở con cháu mới có cơ phát triển được . Tôi còn nhớ trước nhà Nội có treo một tắm bạc bằng vải bố gai trên đó có vẽ 5 con cọp đang lội qua sông với hàng chữ “ Ngủ hổ độ bắc hà “ , ba tôi nói ông Nội rất rành về môn Địa-lý (để coi vị-trí mồ mã) và Tử-vi nên ông đoán biết ba tôi sẽ có nhiều con trai hơn gái . Năm con cọp lội qua sông- ý ông muốn các con sau này phải bỏ làng đến nơi đô-hội mà lập nghiệp để cuộc sống vẽ-vang hơn là sống trong làng Thanh-Minh này…
Do đó những năm tháng ông trốn về với gia đình ba má tôi dành-dụm mua được căn nhà khang trang số 82 đường Lý-Thánh-Tôn Nhatrang năm 1950  … 


  Thời thơ-ấu ,mãi đến năm tôi lên 14-15 tuổi mổi khi đi về Lạc-lợi một minh anh em tôi vẫn còn ngại,Con đường mòn dẩn vào làng từ cây Giáng-Hương đến Cầu bè sao mà vắng vẽ ,không một bóng người qua lại, những ngày trời mưa tầm tả đường lầy lội,hay những trưa hè nắng chan chan - những bụi cây hai bên đường thình lình có tiếng vỗ cánh của con tu-hú hay tiếng kêu của con qụa nghe bắt rợn tóc gáy ,nổi da gà…..Nhất là khi nghe ba tôi kể lại hồi trước bà nội có một lần buổi trưa đứng bóng bà đi từ Lạc-lợi ra Thanh-minh mà mãi đến chiều chưa thấy bà về .Cả nhà đổ-xô đi tìm thì thấy bà ngồi trọn-lọn giửa bụi tre ,mình mẩy không hè hấn gì. ,duy chỉ có phân bò dính đầy người,ba tôi nói bà bị ma dấu .Câu chuyện này làm anh em chúng tôi càng sợ hơn,mỗi khi qua lại trên đường này- chúng tôi phải chạy không dám ngó lui…
   Nội tôi trút hơi thở cuối đời  trong căn nhà từ-đường ,nơi ông đã sống từ tuổi ấu thơ với người mẹ cô-đơn .Nội tôi ra đi  trong sự tinh-táo và còn sáng suốt .
Ông tự coi mạch va cho con cháu biết ngày giờ ông phải ra đi…Hai ngôi mộ lớn của ông và bà chôn sát bên nhau ở Gò-đình gần cầu Bè ,cách con kinh nước trong trẻo ở chổ có độ sâu nhất  .Theo địa-cuộc bên kia là hòn Ngang làm ấn-đường phía bắc, xa xa phía nam là dảy Trường-sơn xanh rì ẩn-khuất trong bóng mây mờ .Con Kinh nước chạy qua Cầu Bè ,bao bọc vùng thổ mộ…Nôị bảo : Địa cuộc này tốt con cháu , chúng sẽ làm rạng danh cho dòng họ sau này ….
Tết năm  2005 ,vợ chồng tôi về thăm quê nhà có dẩn đứa con trai trưởng của chi nhánh thứ Trần-Đăng sau này để chỉ cho nó biết ngôi mộ của ông cố tại nơi chánh-quán và ngôi nhà từ-đường để nó biết những di-sản của tiền-nhân…

Trên đường vào ngôi mộ quan-cảnh chung quanh làm tôi ngạc nhiên: Hồi còn sanh-tiền ,thôn Lạc-lợi do Nội tôi khẩn điền lập ấp để dân cư qui-tụ về đay ngày càng đông. Ông qua đời để lại cho con cháu ruộng đất bao la,trong đó có mấy mẩu Gò-đình làm nghỉa trang cho dòng họ Trần-Đăng,đất này là đất thổ chỉ để làm hoa màu phụ.Tôi nhớ lúc nhỏ ,mổi lần đi thăm mộ vào mùa mía chúng tôi phải chun vào vạch mía tìm hướng để đi đến mộ.
Ngày thông-nhất đất nước ,dòng họ tôi cũng đã chấp-hành theo chính sách mới của nhà nước .Chúng tôi đã nghiêm chỉnh  hiến hết ruộng đất để goị là sang bằng xã-hội - nghèo-khó như nhau…Chính quyền mới họ bảo :” tập-trung ruông đất để tăng-gia sản-xuất “…
Nhưng hiện nay đất này không phải để tăng-gia sản-xuất như đã nói ,chính quyền Xã đã đem những mẫu đất thổ tịch thu này để bán lại cho dân  cất nhà . Nhà của ở đây , bây giờ chi-chít trở thành một ấp mới.Tệ hại đến nổi hai ngôi mô của ông bà Nội tôi lọt vào khu vườn của người ta,Chính quyền Xã chỉ là những người trẻ hậu sinh cở tuổi chúng tôi , Thời thế có thay đổi ,nhưng lòng người phải biết tôn ti trật tự của lẽ phải ,phải biết làng này từ đâu mà thành hình ?Có chia hay bán cho ai thì cũng phải nghĩ mà để lại một ít quanh hai ngôi mộ mà bọn họ đã từng cúc cung tận tụy ơn nghiã trước kia với ông Nội tôi chứ ? Có đâu hai ngôi mộ của Ông Bà Nội tôi bây giờ nằm hiu quanh trong góc vườn nhà người ta… Hay là bọn họ còn suy nghĩ phải đấu tố chúng tôi như thời “Đấu tố ruông đất 1954 lúc mới tiếp thu ở miền Bắc ?” …
.Bây giờ chúng tôi phải xin phép chủ nhà để bước vào sau vườn của họ để thăm mộ .Thật oái ăm thay !!!!Không biết Nội tôi nơi suối vàng mĩm cười toại-nguyện rằng dân số Lạc-lợi nay tăng gấp nhiều lần hơn xưa mà ông đã chiu dụ họ về để lập làng lập ấp………Hay là nội thở dài để tiết nhớ những đêm trăng sáng ,trong cảnh huyền-nhiệm cuả trời đất – Có những đêm Nội trở về ngồi ở mộ nhìn con cháu trưởng thành theo năm tháng – Trong cảnh bao la của màn đêm :bên kia là nuí hòn Ngang trong âm-u .xa xa dãy Trường-sơn ẩn-khuât trong sương mờ và gần hơn ngôi nhà từ-đường thân-yêu của Nội maí nhô lên khỏi vòm cây trong vườn…và nằm giữa cánh-đồng lúa trải dài dưới ánh trăng đêm…mà ngao ngán thở dài….. Ôi thời oanh liệt của chúng ta   nay còn đâu !!! .  
                               Đêm khuya gió lạnh vi vu thổi
                               Bụi cây thấp thoáng đớm loè bay
                               Buồn tình nổi ấy nào ai thấu
                              Cô đơn lạnh lẽo lúc trăng lên
                                                                                 Sydney NOV.2010 Trần-Đăng-Độ

4/1/08

Chữ NHẪN của ông Nội tôi





Nhẫn nhẫn nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử tận 

Nhiêu nhiêu nhiêu, thiên tai vạn họa nhất tề tiêu 


Vợ chồng tôi một hôm nhân ngày tết đi xuất hành đến một ngôi chùa ở Cabramatta –chúng tôi gặp một vị hòa-thượng đến từ Việt-Nam –Ông trù trì ở một ngôi chùa gần thác Prenn trên ĐàLạt –Sau một vài câu chuyện tôi sực nhớ đến hai câu thơ trên , nên đạ thỉnh ý -và đư ợc ông ta cho tôi biết đó là 4 câu thơ tứ tuyệt trong Khổng-giáo :

Nhẫn nhẫn nhẫn, trái chủ oan gia tùng thử tận 

Nhiêu nhiêu nhiêu, thiên tai vạn họa nhất tề tiêu 

Mặc mặc mặc, vô hạn thần tiên tùng thử đắc

Hưu hưu hưu, cái thể công danh bất tự do 



 Ông Nội đã họa hai câu đối Nho trên  bằng bốn câu thơ để đời cho con cháu.
        Hơi còn ba tấc lo ngàn việc
       Một phút vô thường mấy cũng thôi,
       Trăm tuổi, trăm xuân, trăm thiện phúc…
       Nh ẫn nhiêu, gương sáng để trên đời…
  Hôm nay, sau khi đã được đọc những lời hay, ý đẹp  của các anh chị, HồngNở  cũng xin mạo muội góp ý luận bàn về nhửng câu thơ trên  với thiển ý gọi là…sự hưởng ứng nồng nhiệt của vai phụ ( phận dâu con) trong gia đình TrầnĐăng  ngỏ hầu để  cho các con cháu thấu hiểu sâu xa hơn lời di huấn thâm-thúy của ông nội để lại...

           Hai chữ Nhẫn Nhiêu nếu đem áp dụng vào đời sống trong gia đình ,nhẫn nhịn chịu đựng, không tranh chấp hơn thua, được mất, khi phàm tánh đang còn gọi là phàm phu tục tử,nếu cố gắng rèn luyện bản thân,tự chủ được mình , hà tất sẽ khắc phục được mọi nghịch cảnh. Ví dụ  như câu chuyện  của Thầy Mẫn Tử ngày xưa mà ta đã học.Mẫn-Tử mẹ mất sớm,cha tục huyền, chẳng may gặp phải bà mẹ ghẻ ác độc.Nhưng với một lòng hiếu thảo với cha , ông đã nhẫn nhục chịu đựng cuối cùng cũng cảm hóa được   người mẹ hồi tâm,giác ngộ. Điều đó cho ta thấy ông đã thực hành được hai chữ Nhẫn &Nhiêu  Chúng ta cùng đọc lại bài thơ dưới đây.

 NHẪN :  Thầy Mẫn Tử rất đường hiếu nghĩa
                Xót nhà Huyên quạnh quẽ đã lâu
                Thờ cha sớm viếng khuya hầu
                Chẳng may gặp phải mẹ sau nồng nàn
                Trời đương tiết đông hàn lạnh lẽo
                Hai em thời áo kép mền bông
                Chẳng thương chút phận long đong
                Hoa lâu nở để  một thân lạnh lùng
                Khi cha dạo theo chân xe đẩy
               Rét căm căm nên sẩy rời tay
               Cha nhìn ngẩm nghĩ mới hay
              Nghiến răng rắp cắn đứt dây xướng tùy
……………………………………………………………
Nhiêu :   Xin cha xét lại nguồn cơn
                Mẹ còn chịu một thân đơn
                Mẹ đi luống để cơ hàn cả ba
               Cha trông xuống cũng sa giọt tủi
                Mẹ nghe rồi cũng đổi lòng như xưa…
           Nói về chuyện dân gian, sau 75 biến chuyển của thời cuộc, nhiều người vợ đã nhẫn nhục chịu đựng buôn tảo bán tần nuôi chồng tù tội nuôi con thơ dại rồi cũng có ngày gia đình được đoàn viên  hạnh phúc như người đàn bà của Trần Tế Xương
                    Lặn lội thân cò nơi quãng vắng
                   Eo xèo mặt nước buổi đò đông
 Đây là tấm gương sáng để cho con cháu noi theo.
Trong khi đó, cũng có nhiều gia đình bị tan vỡ chỉ vì vợ chồng đang trong hoàn cảnh khó khăn không biết Nhẫn Nhiêu mà thôi.
      Tôi cũng đã có lần được nghe ba kể lại : khi ông Nội mua cho ba căn nhà ở Thanh-Minh, ngòai hai chữ NHẪN & NHIÊU ông viết treo trước nhà, Ông còn đặt cho Ông Chín Cối thợ mã dưới Cây Xay vẽ cho Nội một bức bình phong treo trước nhà hình năm con cọp lội qua sông và chính tay nội viết mấy chữ Nho: NGỦ HỔ ĐỘ BẮC HÀ . Anh Độ suy nghĩ mãi ý ông nội muốn gì đây ? Theo thiễn ý của tôi : Chữ Nhẫn trong gia-đình vợ chồng con cái nếu có giáo dục căn bản cộng thêm tính hiếu để thì vấn đề nhẫn nhục dể dàng làm được. Chữ Nhẫn ngoài xã-hội mới là quan-trọng, như con cọp lội qua bờ bên kia . Chữ Nhẫn để hung đùc và nuôi dưỡng chí lớn…Tôi nghĩ đó là ý nghĩa của bức tranh nói trên  :
     Trong lịch sử nước nhà, ta cũng thấy có biết bao vị anh hùng đã nhẫn nhịn chịu đựng gian khổ như Lê Lợi đã mười năm nằm gai nếm mật trong rừng sâu nước độc cuối cùng đã xua-đuổi được ngoại xâm dành lại thanh bình độc lập cho nước nhà. Đó là cái Nhẫn của bậc cao nhân đã làm nên chí lớn.. …Như Nguyễn-công-Trứ suốt đời đến 70 tuổi vẫn  tận-tụy để phục vụ cho sơn hà xã-tắc:
                  Trong lăng-miếu đã ra tài lương-đống
                  Ngoài biên thùy rạch mũi can tương
 TRẦN-HƯNG-ĐẠO đã vì tổ-quốc chịu Nhẫn  để quên thù nhà mà giúp vua hai lần đại thắng quân Nguyên.
 Một câu chuyện vui trong lịch sử nước Tàu đời HÁN-VŨ-ĐẾ có hai bậc quân-sư đã đưa Thái Tử LƯU-TRIỆC dựng nghiệp ĐẾ : Đông-Phương-Huệ (Sóc) & Chủ-Phù-Yễn . Hán-Vũ-Đế người nóng nảy, đa nghi nên đến khi ngồi được trên ngai Thiên-Tử thì bao người đã từng cắt máu ăn thề với ông đều bị chính ông xử trảm, ngoại trừ Đông phương Sóc làm nội-gián đã bày mưu hiến kế cho  bà Hoàng thái hậu. Đến khi H.T.H. chết thì ông cùng người yêu ẩn tích thiên nhai . Chũ-phù Yễn xuất hiện sau đó bên cạnh Hán-Vũ cũng bày mưu tính kế để thôn tính các chư-hầu . Ông này mới là Đại Nhẫn  _ Thiên-lao là chổ ông bị Hoàng-đế đưa ông vào rồi ra như cơm bửa. Chủ-phù-Yễn từ chối với người yêu là công chúa Tuyết-Liên nước Đại-Uyễn …trong khi ông đang mang tử tội, ông nói thẳng với công chúa Tuyết-Liên rằng: Trường-An là nơi ông sinh ra và lớn lên cuộc đời ông gắn liền với non sông và cây cỏ , thà chết  vẫn ở lại để làm trọn kẽ trung thần … Như đã nói Hán Vũ Đế là vị vua có tính cao ngạo cố chấp không nghe lời can gián  của triều thần ngay cả Chủ Phù Yển là bậc quân sư. Cũng vì thế nên C P Y  chịu nhẫn nhục lấy cái chết của mình để đổi lấy sự vinh quang chiến thắng cho Đại Hán dẹp được phản thần & kết nạp được chư hầu. Khi nhà vua nhận biết được cái Nhẫn của Chủ-Phù-Yển và  thương tiếc thì  đã muộn màng.. Đó mới thấy được cái Nhẫn của các bậc cao minh có đại trí đã dẫn độ đối phương trở về giác ngộ.
     Qua những câu chuyện kể trên nhằm luận về hai chữ NHẪN & NHIÊU
Mà Ông Nội đã nhắn gửi , tôi nghĩ đây là một công-án như chuyện nhà Phật đưa tay chỉ mặt trăng, ta chớ nhìn ngón tay hay mặt trăng Phật chỉ, mà hãy suy ngẫm con đường từ ngón tay Phật dẫn đến mặt trăng có lắm điều kỳ diệu cần phải suy ngẩm…
  
Sydney, cuối năm 2007…HồngNở TrầnLê….