NHATRANG QUÊ TÔI
Biển Nhatrang lúc nào cũng trong xanh ,mặt biển lúc
nào cũng êm đềm với những đợt sóng lăn tăn nhấp nhô vừa đủ để tôi nằm dài thả
trôi bập bềnh theo sóng nước, mắt nhìn cả bầu trời bao la mênh mông xanh thẩm –
mong mênh như mộng ước của tuổi hai mươi . Những cơn gió nhẹ vừa đủ để
nâng đôi cánh dài của đàn chim hải âu đang bay lượn trên bầu
trời xanh , thĩnh thoảng lao thẳng xuống nước để bắt mồi ...
. Những ngày trước tết con đường mòn dọc theo
triền núi từ bên nay chùa Hãi- Đức trèo dốc ngược lên chân Phật đài đã bao năm
lưu gót chân của tôi với vài người tình sánh vai nhau đi trong đêm .Trên đỉnh
đồi cao tại đây tượng Phật đang ngồi tọa thiền mặt hướng ra biển đông. Từ ngoài
khơi tàu bè qua lại đều thấy rõ tượng Phật trắng xóa trên nền trời trong xanh
.Tiếng Đại hồng chung ngân nga vang xa đến năm sáu cây số vào những buổi sáng
tinh sương
Thời thơ ấu tôi thường ngước nhìn giờ của bốn cái đồng
hồ to qúa cở trên đỉnh tháp chuông của ngôi nhà thờ Núi, hai cây kim chỉ giờ và
phút sao mà dài ngoằn –không chừng nó còn dài hơn cả cây đòn gánh để gánh
lúa ở làng tôi ..Ngôi nhà thờ đá này mặt trông thẳng xuống con đường Bá-Đa-Lộc
chạy dài ra biển không qúa hai cây số .Ngôi trường trung-học Võ-Tánh nằm trên
con đường này . Những ngày biển động vì mưa gió,tiếng sóng âm vang dội vào lớp
học để ru ngủ những tâm hồn non dại
đang ngóng cổ nghe lời giảng dạy của thầy cô…nhất là những môn học mới
lạ : như lượng-gíac với những công-thức khó nhớ ,vật-lý với những định-luật chỉ mới được nghe
lần đầu ,Việt-văn những bải thơ Kiều của nguyễn-Du ,những tư-tưởng mới lạ của
Tự lực văn đoàn nào Đoạn-Tuyệt ,nào Hồn bướm mơ tiên …lời thầy giảng êm như gió
,nhẹ như mây đã đưa hồn chúng tôi mơ về miền đất hứa...Mơ một mối tình
như Dũng và Loan trong Đoạn-Tuyệt …ngoài kia tiếng sóng vổ vào bờ vẫn âm vang bất tận
.Nhớ những đêm trên thác Ba Hồ ,suối Tiên, thầy trò ca hát bên ngọn lửa trại
cháy bập bùng giửa rừng khuya vào những ngày sắp cuối niên học .
Cố quên mật khu Hòn Hèo
,Hòn Dữ…căn cứ địa của phía bên kia đang ngày đêm dội đại-bác vào thôn xóm ;nơi
đây có miếu thờ của Thiên-Y Thánh Mẫu ANA lúc thiếu thời .Những ngày Nha thành
còn bình yên của những năm 1956-1960 ,nhiều cô đòi bạn tình của mình đưa lên
đây để thề non hẹn biển ,yêu nhau đến bạc đầu ,mai kia dù trắc trở cũng vẫn bền
lòng nhớ đến em…
Tháp Bà cách Nhatrang một cây số trên đường
quốc-lộ về hướng bắc là nơi người Chàm thờ bà khi bà đã tu thành chánh qủa .
Tục truyền : ngày xưa từ thời Chiêm Quốc ,cách Nhatrang hơn mười cây số về
hướng Tây, tại thôn Đại-Điền có cặp tiều phu dựng liều làm rẫy trong núi .Ngày
ngày trồng dưa đốn củi để độ nhật .Bất chợt vào một năm mưa gió thuận hòa ,dưa
được mùa sai trái .Vào một đêm trăng thanh vắng ,ông Tiều chợt thức giất nửa
đêm ,vì ông nghe trong khu rẩy dưa có tiếng hát lạ bay vào trong căn liều của
vợ chồng ông đang ngủ .Lòng hiếu kỳ ông vội ra rình xem .Dưới ánh trăng
lung-linh, một cô bé nhỏ nhắn đang nhảy múa ca hát trong xiêm-y tha-thướt rồi
đùa giởn với những trái dưa to mới lớn .Nghe tiếng động cô bé tức thì biến mất
vào đám dưa .Lòng thấp thỏm lo âu , ông ta cố rình lại để bắt cho được
Sau đó không lâu cô bé đã bị ông Tiều tóm được đem về
nuôi .Cô bé càng lớn càng xinh đẹp ,sống chuổi ngày hiu-hắt giửa rừng núi
hoang-vu .Một ngày cô hú mây gọi gió tụ về đen kín cả bầu trời rừng núi , mưa
gió sập trời lở đất , gổ trên nguồn trôi xuống ầm-ầm …cô bé nhập thân vào gổ
trôi băng băng ra biển đông để rồi cuối cùng tấp vào một bải biển bên Tàu. Dân
chúng thấy khúc gổ lạ ,bèn hè nhau kéo lên bờ ,nhưng lạ thay khúc gổ không thể
nào nhúc nhích xê dịch đi đâu được .Ngày tháng tin lạ bay đến hoàng-thành.
Hoàng-tử nghe tin nên thân chinh đến đó xem ,nhưng lạ thay bao nhiêu trai tráng
trong làng hè nhau kéo vào bờ mà không có kết qủa , đằng này Hoàng-tử chỉ một
tay xốc nhẹ để trên vai đem vào bờ trước kinh-ngạc của thần dân.
Hoàng-tử
thay vua cha trị vì thiên hạ và phong cho nàng làm hoàng-hậu để rồi sanh cho
nhà vua một thái-tử thật kháu-khỉnh .Cuộc tình nào cháy mãi rồi cũng nguội .Nơi
xứ lạ quê người dầu cho chăn ấm nệm êm của bậc vua chúa ,lòng nào lại chẳng có
ngày tháng mòn mỏi nhớ quê .Lại một ngày bà ta hóa phép mưa gió ngập trời
để rồi cũng nhập thân vào khúc gổ cũ
trôi băng băng ra biển đông trở về cố quốc.Nơi quê nhà ,Bà rũ lòng trần, trở về
với bản chất Tiên để tu luyên trên ngọn núi Hòn Dữ cao ngất đến trời xanh quanh
năm mây phủ trắng .
Năm tháng biệt mù
,con nhớ mẹ ,chồng nhớ vợ ,nhà vua dong buồm ,xua quân về phương nam tìm vợ .
Được
tin ANA Thánh-mẫu
rung-đông tưởng chừng như khó dứt được hồng trần ,công phu tu luyện tưởng như
thành tro bụi ;
mặc dầu ruột đau như cắt ,bà nhắm mắt làm phép hú mây gọi gío muôn phương đẩy
bạt đoàn
tàu-thuyền của nhà vua ra khơi .Biết vợ mình một lòng muốn đoạn tình ,nhà vua không cầm nổi cơn giận dữ ,vung tay đánh sập cả núi đá ,miệng kêu hét tên bà .Núi sập đá chồng chất ngút ngàn trên bải biển ,dấu tích đó còn lưu lại đến ngày nay mà người dân địa-phương gọi là Hòn-Chồng và phiến đá lớn nằm chênh vênh trên cao còn hằn sâu dấu ấn của bàn tay nhà vua .
tàu-thuyền của nhà vua ra khơi .Biết vợ mình một lòng muốn đoạn tình ,nhà vua không cầm nổi cơn giận dữ ,vung tay đánh sập cả núi đá ,miệng kêu hét tên bà .Núi sập đá chồng chất ngút ngàn trên bải biển ,dấu tích đó còn lưu lại đến ngày nay mà người dân địa-phương gọi là Hòn-Chồng và phiến đá lớn nằm chênh vênh trên cao còn hằn sâu dấu ấn của bàn tay nhà vua .
Quê ngoại tôi ở Phú-Khánh
, quận Diên-Khánh cách Nhatrang khoảng mươi cây số .Những ngày hè oai bức, tôi
thường về thăm ngoại ;vào những đêm trăng, tôi và ngoại thường ngủ trước hiên
nhà để nghe bà thủ-thỉ kể chuyện xưa .Trong đêm khuya thanh vắng,dưới bầu trời
trăng sao mờ ảo ,nhiều lần tôi đã chứng kiến thấy rõ ràng một khối lửa to bằng
cái nia phơi lúa đường kính có thể đến hai thước có đuôi dài ,xung quanh khối
lửa có tua tà sáng xanh ngắc thấy mà rợn tóc gáy , đang bay tà tà cao khoảng trên đọt cây câu từ Hòn-Dữ bên Đại-Điền
bay hướng vào núi Đồng-Bò nơi có Thác Nước-Đỗ quanh năm trắng xóa ở lưng chừng
vách núi , Ai đi trên quốc lộ 1 đều thấy rõ .Hiện-tượng này cứ vương vấn mãi
trong đầu tôi khó quên.
Trở lại với cảnh-trí Nhatrang
, Biễn NhaTrang để lại nhiều nhạc-phẩm
nổi tiếng của Minh-Kỳ , của Phạm-Duy " NhaTrang ngày về , của Lam-Phương
" Biễn tình : còn sống mãi trong lòng người dân cả nước
Nha Trang ngày về,
mình tôi trên bãi khuya
Tôi đi vào thương nhớ,
Tôi đi tìm cơn gió
Tôi xây lại mộng mơ năm nào
Bờ biển sâu, hai đứa tôi gần nhau....
Tôi thường đạp xe cùng bạn bè sau giờ học buổi chiều trên dại-lộ Duy-Tân .Con đường chạy dọc theo bờ biển đến cả chục cây số , xa xa nhìn về phương bắc , đèo rù-rì một dãy núi đâm ngang của nhánh Trường-sơn .Trên đỉnh núi ở độ cao cả nghìn thước, một tượng đá hình người lính trong thế thao-diễn nghỉ, trắng xóa trên nền trời xanh ,bên dưới chân núi là trườngHạ sì-quan Đồng-Đế ,một quân trường khét tiến:Thao-trường đổ mồ hôi ,chiến-trường bớt đổ máu .Những đêm trăng sáng,từ bải biển nhìn lên nhánh núi này ta có ấn-tượng như hình một thiếu-nử nằm dài tóc xỏa ra tận biển khơi…các anh tốt-nghiệp quân-trường này chắc khó quên hai câu thơ đây vọng tưởng :
Tôi đi vào thương nhớ,
Tôi đi tìm cơn gió
Tôi xây lại mộng mơ năm nào
Bờ biển sâu, hai đứa tôi gần nhau....
Tôi thường đạp xe cùng bạn bè sau giờ học buổi chiều trên dại-lộ Duy-Tân .Con đường chạy dọc theo bờ biển đến cả chục cây số , xa xa nhìn về phương bắc , đèo rù-rì một dãy núi đâm ngang của nhánh Trường-sơn .Trên đỉnh núi ở độ cao cả nghìn thước, một tượng đá hình người lính trong thế thao-diễn nghỉ, trắng xóa trên nền trời xanh ,bên dưới chân núi là trườngHạ sì-quan Đồng-Đế ,một quân trường khét tiến:Thao-trường đổ mồ hôi ,chiến-trường bớt đổ máu .Những đêm trăng sáng,từ bải biển nhìn lên nhánh núi này ta có ấn-tượng như hình một thiếu-nử nằm dài tóc xỏa ra tận biển khơi…các anh tốt-nghiệp quân-trường này chắc khó quên hai câu thơ đây vọng tưởng :
Tượng đá đầu non thao diễn nghĩ
Nàng nằm xỏa tóc đợi chờ ai ???
Đại-lộ Duy-Tân sát bờ nước , hàng dừa nghiêng xoải mình
ra biển ,sóng vổ, gió rít qua rạng phi-lao điệu ru vi-vu muôn thuở …Đường mộng ngập màu áo
trắng của Nử sinh ,tà aó ai thướt tha bay trong nắng chiều để lộ những
đường cong khêu gợi ,làm xao xuyến bao chàng trai vừa xếp bút nghiên theo việc
đao cung của hai quân-trường nổi tiếng Hải-quân và Không-quân cũng tọa lạc ở
cuối con đường này .Tòa tỉnh-trưởng án ngử ở ngay đầu đường , nổi tiếng là Viện
Pasteur ,bác-sỉ Yersin người đã hiến trọn cuộc đời mình cho viện nghiên-cứu này
,xuống chút nửa là nhà hàng Beau Rivage ,những năm trước thập niên 1960 đây là
nơi Tổng-Thống Ngô-đình-Diệm trú-ngụ mỗi khi đến Nhatrang-trong những dịp này
chánh-quyền địa-phương thường tổ-chức đón chào: dưới biển có những cưộc đua ghe
,trên không máy bay chao-lương trong ánh hỏa châu sáng rực trời. Những năm
tháng bình-yên đó sau này nhớ lại ai cũng thấy tiếc nối .Cuối con đường này qua con dóc nhỏ là
Hải-Học-Viên , một viện Hải-dương-học độc nhất của Đông-Nam-Á .Nơi đây cũng có
trường Đại-học Duyên-hải mà đa số là các nàng nử-sinh trong những chiếc áo dài
đủ màu sắc ,gió biển của cảng Nhatrang lúc nào cũng đủ mạnh để nâng những tà aó
bay trong nắng như những cánh bướm nhởn nhơ trong vườn hoa .Lầu Bảo-Đại xây
trên ngọn đồi trông xuống cảng Nhatrang .Từ lâu-đài nhìn xuống vào những buổi
chiều khi ánh hoàng-hôn sắp tắt sau núi rừng là bức tranh thủy-mạc thật linh
động .Nét chấm phá là những cánh bưồm tranh nhau ra khơi để đi đánh cá đêm
,thấp thoáng hàng đàn nhạn trắng bay lượn là đà trên mặt nước để tìm mồi .Xa xa
Hòn-Tre lừng-lững như bức bình-phong chắn gió , những con tàu buôn lớn đang
buông neo ống khói tàu vẫn còn thong-thả nhả khói lam… ánh nắng chiều lẩn khuất
sau rừng núi Trường-sơn hắt lên đảo Hòn Tre nhửng dải nắng chổ vàng cam của đất
,chổxanh ngắt của rừng lá….
Bên kia là lầu Vọng-nguyệt cái tên nghe thật lãng mạng
và tình tứ của thời đại một ông vua trẻ nhiễm văn hóa tây-phương , một vị vua
cuối cùng của triều-đại nhà Nguyễn. Tòa lâu đài này bốn mặt là kính để vua và
Hoàng-hậu lên đây ngồi ngắm sao trời trong thời-đại hoàng-kim thuở
nào.... Đứng trên lầu vọng-nguyệt có thể quan-sát hết trời mây
non nước cảnh sắc hữu tình , với những con đường nhỏ hẹp quanh co giửa hàng
phượng-vĩ , đến mùa hè hoa nở cả một vùng rực lên màu phương đỏ thắm .Từ
lâu đài này. , một con dốc thoai-thoải dẫn xuống mõm đá nhô ra biển ,nơi dành
cho vua ngồi câu cá .Nghìn trùng lớp sóng phế hưng biến chổ câu cá của
hoàng-triều thành hoang-phế .Chiếc ghế ngồi của vua chỉ còn lại một khung sắt
rỉ sét bám đầy vỏ ốc sần sùi .
Trước 1970 đỉnh Hòn Tre là căn cứ RADAR của Mỹ , đêm nhìn lên đỉnh là cả bầu trời
sáng rực ánh đèn phòng-thủ .Căn cứ này được chuyển-giao lại cho HQ/VNCH.
Ở độ cao hơn 800 thước giửa biển khơi bốn bề gió lộng , nhìn vào
thành-phố Nhatrg , ánh đèn
muôn màu về đêm của phố xá tấp nập nhìn qua ống dòm vẫn thấy rõ mọi sinh hoạt
từ xe cộ đến người đi .Trên đỉnh này vào những buổi chiều trời trở gió , mây
giăng thấp là đà trên mặt đất ,trời thật lạnh có những sợi tơ trời bay
quấn-quít theo bước chân ,tôi đã tiếp
nhận và điều khiễn căn cứ này -
gần hai năm sáng chiều làm đạo cốt tiên ông trên đỉnh núi này.
Tôi trưởng-thành khi đất nước quặn mình đi vào
một khúc rẽ mới của cuộc nội chiến tương tàn .Sau vài năm ở Đại-học ,tôi ra
trường làm nghề giáo ở các trường trung-học trong thành-phố Nhatrang ,Cuộc
chiến đến thời cao điểm ,tôi được lệnh đông-viên .Quê quán vùng duyên-hải
,trong huyết quản sẳn dòng máu phiêu-lưu mộng hải hồ sông nước ,nên tôi đả
gia-nhập vào quân-chủng Hải-Quân . Hai năm lại tiếp tục nghiên bút trong quân
trường .Những ngày nghỉ cuối tuần trong bộ quân-phục trắng toát lang-thang trên
những hè phố , hay bên em tay trong tay trên bải biển Nha thành .Những lời thì
thầm bên tai lẫn với gió và sóng biển rì rào ,chúng tôi dìu nhau đi trên bải
cát trắng cho mãi đến khuya ,trên không muôn vì sao lấp lánh ,anh sẽ chỉ cho em
ngôi sao nào là đẹp nhất để hướng con tàu ngày mai của chúng mình sẽ hải-hành
trên biển đời đầy ngăn cách .Với ý-nghỉ này ,chúng tôi không khỏi thoáng bùi
ngùi chạnh lòng ý thức được rằng ,mai kia vì sao đẹp nhất trong đôi mắt người
yêu ,rồi đây chắc giăng mờ viễn-ảnh một ngày mai khi tàu rời bến . Chen lẫn
trong sóng biển rì-rào ,hay trong nắng ấm reo vui là điệu buồn vang vọng từ tâm
tư thầm kín xao-xuyến vì ngăn cách . Đời em sẽ là chuổi ngày dài những chờ mong ,những thương nhớ cả ước
nguyện chỉ là giây phút tái-hợp ngất ngây …Bên anh ,tóc em sẽ là
dòng sông đêm và mắt em sẽ là vì sao sáng tưởng như dỏi theo đường tàu anh đang
vượt ngàn hải-lý…
Người
đi nhớ gì giữa đêm kinh kỳ
trời khuya có người mơ bước ai đi
suối đời cùng rừng xanh vạn lý
gió núi mưa tuôn xe đôi vai nặng vì tình non tình nước
ước mơ mai về kể nhau hết chuyện xưa...(Nhạc sĩ Minh-Kỳ).
trời khuya có người mơ bước ai đi
suối đời cùng rừng xanh vạn lý
gió núi mưa tuôn xe đôi vai nặng vì tình non tình nước
ước mơ mai về kể nhau hết chuyện xưa...(Nhạc sĩ Minh-Kỳ).
Cuộc sống đời lính biển rày đây mai đó,trăm bến nước
ngàn bến tình khi biển cả ,khi sông hồ..Vào những phong-ba của thời cuộc , từ
tết mậu-thân ,mùa hè đỏ lửa ,hiệp-định Ba-lê ,.Sống đời chinh-chiến trên khắp
năm vùng duyên-hải ,tôi chẳng còn thì giờ để sống những giây phút quay về với
dĩ-vãng mơ mộng, của ký-ức ,với những kỹ-niệm ban đầu của chúng tôi ngày nào
….Cho đến một sáng 30 tháng 4....
Gần 40 năm xa quê - Ổn
định nơi quê hương mới mà lòng không ngui nhớ về quê-hương cũ .Có những lúc tôi
cảm thấy bồi-hồi để rồi giật mình thấy rằng mái tóc đã điểm sương .
Ta đã làm gì đời ta chưa
Ta đã làm gì đời ta xưa ?
Thi-sỉ Vũ-hoàng-Chương đã nói như thế và không
có câu trả lời .Phần tôi sinh ra và lớn lên trong chiến tranh điêu-tàn ,tôi
cũng đã đóng góp phần nào trách-nhiệm trong dòng sinh-mệnh của đất nước .Nhìn
lại thấy thoáng buồn vì chưa thỏa được chí tang bồng ,nhìn về quê cũ vào những
buổi chiều có dịp ra ngắm biển , lòng thấy ngậm ngùi ngâm nga vài câu hát
:
Rồi
một chiều biệt ly Nhatrang ,tôi còn mến yêu quê nhà , đây là đóa hoa muôn đời đầy hương….
Biển Nhatrang ban ngày đã đẹp , ban đêm còn đẹp hơn
vào những đêm trời êm biển lặng, bầu trời đầy sao chi chít ,ngoài khơi ánh đèn
giăng câu của vô số ghe thuyền đánh cá nhấp nhô dưới đường chân trời …cho
tôi có ấn-tượng ngoài kia cũng là một thành-phố , ánh đèn ngư-phủ là một đại-lộ còn dài hơn cả đại-lộ Duy-Tân trong
này . Đêm tôi xuống ghe ở Bải-Dương Đồng-Đế vượt-biển giả-biệt Nha thành, thấy
Nhatrang như trôi
vào huyễn-mộng ,nghe sóng vổ mà tiếc thương ,trên chiếc ghe cà trăm mạng sống đang nhìn lại Nhatrang từ ngoài khơi xa ....
vào huyễn-mộng ,nghe sóng vổ mà tiếc thương ,trên chiếc ghe cà trăm mạng sống đang nhìn lại Nhatrang từ ngoài khơi xa ....
Lịch sử ta đã trãi qua hàng mấy ngàn năm ,biết bao triều-đại đã hưng
phế . Những người như tôi đã rời xứ ra đi khi trở lại quê nhà ai cũng có những
nổi niềm khắc khỏai trước những cảnh đổi thay .
"...Khi
về thăm trường cũ
Ta tóc đã hoa râm
Khi về thăm bạn cũ
Cỏ xanh chỗ anh nằm..."
Ta tóc đã hoa râm
Khi về thăm bạn cũ
Cỏ xanh chỗ anh nằm..."
Mai tôi sẽ rời Nha Trang để về lại Sydney . Còn một đêm này tôi lang thang giữa
thành phố biển bên em-Tôi muốn: thở trong bầu không khí mà ngày xưa anh và em
từng thở. Tôi muốn: đi lại con đường mà ngày xưa anh và em đã từng đi .Tôi muốn:
anh và em cùng nhìn lại bầu trời đầy sao sáng mà ngày xưa bên em anh đã chỉ ngôi
sao nào là ánh mắt em... Tôi muốn: ôm trọn con đường Duy Tân dài đã từng chôn kín
nhiều kỹ-niêm vui buồn như anh đã từng
ôm bờ vai nhỏ bé của em thuở nào . Một
lần cho một đời người.
Nha Trang ơi, sao cứ như hạt bụi trong mắt tôi ngày về ?
Nha Trang ơi, sao cứ như hạt bụi trong mắt tôi ngày về ?
Sydney Đầu mùa Thu 2017
TRẦN-ĐĂNG-ĐỘ -
Học sinh Võ-Tánh từ 1956
-1963
Năm cuối 1962-1963 Đệ Nhất B3
Lời nguyện cầu nửa đêm
Nhạc sĩ ; ANHTHI
