DU-LICH

1/11/11

Năm tháng xa Quê-Hương



Ông Nội Qua Sydney thăm con cháu 1990




 Tháng 4 -1975 tôi từ đơn vị tan hàng trở về trong sự ngỡ ngàng của cha mẹ & vợ con vì họ cứ tưởng tôi bỏ gia-đình mà ra đi .  Ba  tôi không biết ông đọc ở đâu hoặc nghe ai nói mà thuộc nằm lòng ,hể gặp tôi là cứ nhắc nhở :”khôn cũng chết ,dại cũng chết ,biết thì sống “ Nhiều khi nhìn vợ con nheo nhóc tôi cự nự với ông : mẹ kiếp mấy thằng bạn của con , nó khôn bỏ mẹ dọt lẹ có đâu dại như con .Dại cũng chết thì có . Ông ta trả lời :  Lở dại thì áp dụng câu : Biết thì sống . Tôi nhìn ba tôi ngạc nhiên vì cứ tưởng hồi giờ ba tôi ít lí lẽ.  

Đúng vậy . Biết ta ,biết người trăm trận trăm thắng . Chỉ sau một năm 10 tháng trong trại tù Lam-Sơn tôi được thả về . Trong cái rủi có cái may , tháng 9 năm 1979 tôi được giao phó một Mission đưa hơn 500 mạng người đến bến bờ tự-do … Chiếc ghe  lắc lư với nhiều cơn thịnh nộ của biển cả sau bốn ngày năm đêm cuối cùng cũng  cặp bến HongKong khoảng 2 hay 3 giờ chiều an toàn . Ánh nắng chiều đã tắt ,tôi đứng lặng nhìn về phương Nam chân trơi ảm đạm một màu tím ngắt của chia ly. Ôi quê hương nghìn trùng xa cách từ nay !!!

Tại trại Kaitac ở Cưủ-Long ( Kowloon ) tôi gặp một người bạn cùng thời sinh-viên SG với tôi 1963-1965 .Nay cô ta là Dược-sĩ đã có gia đình và 2 con  chạc tuổi con tôi ,chồng nha-sĩ người HongKong đang chuẩn bị di dân qua Pháp . Tha hương ngộ cố tri . Cô ta vào đến tận trại Kaitac Cửu-long đón vợ chồng tôi và đàn con  5 đứa  ra phố chơi ,khi thì Samshipo (Xám-xi-phủ) , khi thỉ  HòngKong ,có khi cô ta đưa chúng tôi lên đỉnh Thái-Bình (out Look) nhìn bao quát thành-phố HongKong trong những ngày cô ta chưa đi Pháp  . Ngày từ giả ,Cô ta nhờ tôi nhắn gởi một người: Paris – Lon
don chỉ cách nhau một  eo biển Manche mà sao nở lạnh lung để cách  trở nhau một con đò.
Những ngày sống trong trại tị-nạn ,nhiều phái-đòan các nước theo Cao-ủy Tị-nạn đến phỏng vấn , các nước như Anh ,Pháp , Nauy ,Argentina thì ít người xin được phỏng-vấn ,còm Mỹ thì thiên hạ bu trước cửa ,có khi nối đuôi dài cả cây số . Tôi tự hỏi : Mỹ bỏ rơi ta để miền Bắc cưởng chiếm ,mà sao Mỹ vẫn còn hấp dẩn vậy ? Sau nhiều đêm suy nghĩ mình nên đến đâu đay ? Cuối cùng tôi chọn Úc ,một xứ hiền hòa ít tham dự chiến tranh vã lại cũng gần quê nhà ,lở một mai thanh-bình trở lại mình trở về cũng không xa . Tôi đến Canberra vào buổi trưa ngày 20 -12 -1979 và được đưa về một thành phố nhỏ cở 25 ngàn dân . Young một thành phố được bao bọc chung quanh những triền đồi với những farm trồng trái anh-đào ,người Úc nói đây là Cherry Capital . Hằng năm từ tháng10 hoa trái anh-đào nỡ đầy tím ngắt cả sườn đồi . Những con đường trong xóm cũng hay xuống dốc lên đồi cảnh trí hao hao của ĐàLạt .Những buổi chiều trời mát vợ chồng thường hay tản bộ trên những con đường đầy hoa trái của mùa xuân , tuy nhiên mùa đông thỉ qúa lạnh có đêm lạnh đến 0 độ là thường . Ở đây tôi làm quen với vài người bạn Úc cha mẹ họ cũng di dân từ Âu-châu , nên cũng dể thông cảm với mình . Mấy tháng đầu tôi làm người vẽ bản hiệu  bất đắc dĩ ,vì mọi người bỏ VN ra đi đều trong hoàn cảnh dở thầy dở thợ ,không có việc gì biết  đâu ra đâu cả ,cứ láp dáp là làm đại. Những bản hiệu với fonds  chữ loại Thư-Pháp của VN ta lại xuất hiện ở Young , nhiều người Úc bình dân ít học họ bảo khó đọc .  Vào dịp tết ta cuối năm này gia-đình tôi cũng tổ chức giao-thừa để tưởng nhớ về Quê hương . trong buổi tiệc cuối năm cùng vài người bạn trẻ Úc đến tham dự ,với nhửng món ăn thuần-túy của VN như chả giò , đằu heo ngăm dấm làm gỏi (đầu heo lúc đó tiệm thịt chỉ cho không ) Tôm lăng bột ,thứ gì họ cũng khen ngon , ngon hơn Chinese food . Thế rồi vài tháng sau tôi lại  ngang nhiên mở một tiệm Take Away với hàng chữ Vietnamese food . Người dân Úc những năm 1980 đa số không biết nhiều về VN ta . Có những món  tôi chưa hề ăn hay biết đến như hột gà omlette chẳng hạn , tôi phải lái xe đến restaurant Úc ăn thử về nhà bắt chước  làm đại giống như hột gà chấy chả có bún tàu nắm mèo ,cho thêm nhiều cần tây cà chua thì cũng hao hao omlette ,Thực khách có thắc mắc thì bảo là Vietnamese style ….Vạn sự khởi đầu nan ,thế là gia đình tôi  bận bịu khổ tâm cả năm trời vì những món ăn mà phải update liên tục mỗi ngày cho giống với người ta .
 Hai năm xa xứ trôi qua trong lặng lẽ ,không bạn bè không người thân , nhiều lần lái xe gần 500 cây số xuống Sydney mua thực-phẩm cho tiệm , tôi gặp lại nhiều bạn bè trong Hải-quân và bạn bè thời sinh-viên ở Sài-Gòn . Cuối năm 1981 tôi quyết-định bỏ Young xuống Sydney   sau khi có thêm một cháu gái  ở đây . Bỏ Young đi với nổi niềm luyến tiếc của nhiều người bạn Úc  ở đây ,nhất là Ông bà  Hogan , ông bà là Luật-sư không con cái ,họ coi vợ chồng tôi như con, ông bà nói :"ngày xưa ông Nội tao đến đây với diện convic , sau đó ông nội tao cố gắng nuôi ba tao ăn học ,ba tao đậu Tú-Tài rồi nuôi chị em tao ăn học và tao trở thành Luật-sư , Mày bây giờ đến đây diện tị-nạn đở hơn ông Nội tao ,do đó mày phải cố gắng nuôi dạy đàn con nên người ,hơn nửa vợ chồng mày có background khá tao tin sẽ thành công nếu chịu khó ". Ông bà luôn khuyến khích và giúp đở  tôi đủ thứ kể cả tiền bạc trong những ngày mới đến ,hay khi xuống Sydney cũng vậy nhiều khi thiếu tiền mua nhà hay cần tiền để thêm vốn làm ăn đều phone hỏi mượn của ông bà . Nay ông bà đã ra người thiên cổ những năm không trở lại Young để thăm mộ ông bà thì trong lòng cảm thấy áy náy không nguôi .
ê
Có một lần tôi trở lại Young trong mùa hái trái Cherry ,tình cờ tôi gặp đám bạn từ Melbourne lên ,trong đó có cặp vợ chồng lớn tuổi hơn tôi trước kia vợ là giáo-sư dạy ở NhaTrang tên Xuyến ,chồng tên Trần-Đăng-Khoa  trưởng-ty Kiến thiết NhaTrang khoảng năm 1960 ,mừng thầm tưởng gặp bà con ,nhưng khi  tôi tìm hiểu , thì ông ta không có dây mơ rể má gì với Trần-Đăng của ta cả ,Xa quê chúng tôi dể làm bạn ,có năm ông lên Sydney ghé lại thăm  ,hay có khi tôi xuống Melbourne cũng ghé thăm ông ,trong những buổi trà dư tửu hậu chúng tôi thường nói về quá khứ ở NhaTrang ,không biết bên phía mấy ông anh con Bác tôi có quen biết vợ chồng ông ta không tôi chưa bao giờ nghe mấy ổng ấy nói đến ,nhưng ông ta biết rất rõ về phía mấy ông anh tôi ,trong những chuyện buồn vui của thời cuộc có lần ông ta hỏi tôi :anh có biết trong dòng họ anh có ai tên Thi không ? tôi bảo không , ông ta chỉ cười và bảo anh không biết hết bà con của anh ? Rồi ông ta nhắc lại chuyện tình khá lăm ly của một người con gái mang tên T. làm thư ký cho ông , nghe ra cũng lâm ly bi đát .
 Hai mươi tám năm ở Sydney con cái đã khôn lớn .Chúng cũng cố-gắng học hành để làm vui lòng cha mẹ , đứa nào cũng thành công trong học vấn và góp phần  làm rạng rỡ cho cha mẹ ở đây . Sydney là thủ-đô của tiểu-ban NSW , những năm 1980 công việc trong các công-ty và cơ xưởng thiếu công nhân , hồi mới xuống có khi một ngày tôi làm đến hai cơ xưởng ,  vào car lúc 7 giờ sáng làm nửa chừng thấy không thích hợp sau khi lunch time ,tôi lặng-lẽ dọt đi Factory khác để xin vào làm afternoon shift 4 giờ chiều . Sau hai năm làm operater cho xưởng đúc cơ-khí cho hảng xe Holden ,tôi thấy cuộc đời làm công nhân không đi đến đâu ,tôi bèn gởi vợ tôi vào may cho một factory để quan sát cách điều hành của họ trước khi tôi quyết định thôi làm để về  mở hảng may . Factory may của tôi ra đời vào năm 1987 . Người ta nói : mưu sự tại nhân thành sự tại thiên .Tôi nghỉ đó chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ , cái quan trọng là lòng tự-tin và chịu khó học hỏi ,Tận nhân lực ,tri thiên mạng ,việc gì mà mình đang làm sau một thời gian  cố hết sức mà không đạt hiệu qủa là phải coi lại và ngưng ngay để khỏi phí thời gian , cố chấp và mê mụi là nguyên nhân đưa đến thất bại. Những năm mới qua  ,mọi người ai cũng bù đầu vì công việc để nuôi sống gia đình bên này và người thân bên quê nhà , chỉ có mùa holiday từ khoảng 20 Dec. đến hết tháng giêng mọi cơ sở từ chính-quyền đến tư- nhân đều đóng cửa . Chúng tôi mới có thì giờ đưa cả gia-đình đi đay đó . Đay là lúc làm cho tôi chạnh lòng nhớ đến quê để ngâm nga vài câu hát mà tôi nghỉ người NhaTrang nào cũng yêu thích : “Rồi một chiều biệt ly NhaTrang ,tôi còn mến yu quê nhà , đây là đóa hoa muôn đời đầy hương ….  
                                             Hình ảnh của 6 đứa con 30 năm sau






                                                                         
Một vài hình ảnh của TRẦN-ĐĂNG-DOANH mười năm về trước khi còn mang cấp bậc Đại-úy Quân-Pháp (LEGAL CAPTAIN) trong Defence Force ở Bắc-Úc DARWIN .
Những thành phố Doanh đã thuyên chuyễn đến: MELBOURNE-PERT H -CANBERRA , hiện Doanh đang mang cắp bậc Thiếu tá và đã thuyên chuyển về Sydney làm giảng-viên dạy bổ túc luật hình sự cho các Sĩ-Quan tham mưu trong Defence force headquarters Sydney đã bốn năm qua .
Nhựng bằng cắp Đại-học mà DOANH đã đạt được :
Bachelor of Laws -Bachelor of Economics - Master of Laws - Alle with HONOURS